Cảm ơn các chú phá tang lễ anh Đằng



Võ Văn Tạo
Anh gọi các “chú”, vì xem ảnh các chú cướp giật băng rôn trên những vòng hoa viếng anh Lê Hiếu Đằng, anh biết các chú nhỏ tuổi hơn anh – nay đã ngoại lục tuần.
Có lẽ, lúc còn nhỏ, khi anh được biết Bác Hồ nói cái câu “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” thì có chú còn chưa chui khỏi bụng mẹ, chú nào nhiều tuổi nhất cũng chỉ mới mặc quần thủng đít ở lớp mầm non hay mẫu giáo. Khi anh trong đội hình Sư đoàn 304 QĐNDVN từ Quảng Bình vào tham chiến Quảng Trị 1972, có chú vẫn chưa ra đời. Khi anh rời Trường Sĩ quan Lục quân Sơn Tây về  Đại học Ngoại thương Hà Nội, có chú còn chưa đi học…
1
Khi học cấp 2 ở thị xã Phủ Lý (tỉnh Nam Hà) – rất kiên cường trong kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của người Mỹ, trong đội học sinh giỏi môn văn, anh được biết bác Tố Hữu có câu  “Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt” trong bài “Ba mươi năm đời ta có Đảng”. “Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt” – câu này thì các chú hiểu rõ hơn ai hết. Bằng chứng là trong tang lễ anh Đằng, những người nòng cốt trong Ban tổ chức gồm các bạn hữu anh Đằng thời sinh viên tranh đấu chống Mỹ và chế độ Sài Gòn trước 1975, tuyệt không thấy một ai là đại diện của Thành ủy, Quận ủy, Đảng ủy phường, các chú vẫn được bề trên phân công đến “làm nhiệm vụ”. Và các chú đã chấp hành lệnh trên một cách hết sức mẫn cán: từ lén lút ghi hình đến ngang nhiên cản trở, hăm dọa những người đến viếng. Từ ban đêm lẻn vào lấy cắp, đến ban ngày trắng trợn cướp giật băng rôn… bất chấp việc Ủy viên Bộ Chính trị kiêm Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải, Phó Bí thư thường trực Thành ủy Nguyễn Văn Đua, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, phu nhân đương kim Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng đến viếng…
“Công an nhân dân” – chắc các chú và anh đều không thể phủ nhận một thực tế là từ chỗ lấy mục tiêu cao cả là độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân, phồn vinh của đất nước làm phương châm hành động đến chỗ trơ trẽn công khai trưng pano ngay mặt tiền cơ quan Bộ cái khẩu hiện không thể thấp hèn, ti tiện hơn: “Công an nhân dân chỉ biết còn Đảng còn mình”. Việc từ trước đến nay, các lãnh đạo cấp cao của Đảng luôn luôn khẳng định công an là thanh kiếm trung thành của Đảng làm anh và dư luận trong và ngoài nước không thể không tin chắc một điều: việc các chú đến phá phách một cách hèn hạ và bẩn thỉu trong tang lễ anh Đằng là nhiệm vụ Đảng giao, chứ không phải các chú hành động tự phát quá lố. Bằng chứng là ngay sau khi các chú giở trò bị ổi đến khó tin như vậy, nhiều người đã gọi điện báo ngay cho các vị có cương vị trong bộ máy Đảng, công an, nhưng đến nay chưa thấy công bố một ai trong các chú, hơặc sếp giấu mặt của các chú bị kiểm điểm, kỷ luật cả.
Như đã bộc bạch cùng các chú, anh được (hoặc bị) rao giảng về Đảng, về Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, về chế độ XHCN tươi đẹp của chúng ta sớm hơn và nhiều hơn các chú nhiều, nhiều lắm! Không chỉ vậy, anh còn có nhiều chục năm tự nghiên cứu về Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, về các trường phái kinh tế, chính trị, các trào lưu, khuynh hướng, trường phái, tư tưởng triết học kim cổ Đông – Tây.
Quả thật, những hành vi không thể thất đức và man rợ hơn của các chú tại tang lễ anh Đằng làm anh không đồng ý với nhận định của Bác Hồ: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.
Việc các chú không bị xử lý kỷ luật (nhiều người bảo anh ngây thơ, vì rất có thể mấy chú còn được đặc cách thăng thưởng! Anh chả tin, khi quyết định thăng thưởng chưa công bố), làm anh và công luận hiểu rõ thêm về “Đảng quang vinh”.
Xin cảm ơn các chú!

Câu chuyện đêm giao thừa


phao
Đêm giao thừa (Qúi Tỵ 2013) năm ngoái, tôi có viết về Mẹ. Tuy mẹ là mẹ của riêng mình, nhưng tôi nhận được khá nhiều sự đồng cảm từ bạn bè, cũng như người thân. Và năm nay, vào cái giờ phút linh thiêng, vần vũ của đất trời, tôi đã đặt bút định viết về cha. Nhưng hình ảnh cha thoắt ẩn, thoắt hiện trong trí nhớ non nớt của tôi. Bởi khi cha mất còn rất trẻ và tôi lại còn quá nhỏ. Có lẽ, hằn sâu trong ký ức tôi nhất, hình ảnh ngày tết, ngày xuân, đội cờ đỏ ập vào nhà thu đồ nghề và bắt cha đi, vì can tội khám, chữa bệnh lậu cho những người dân cù bất cù bơ, không có tiêu chuẩn vào trạm xá, hoặc bệnh viện…
Đang mông lung như vậy, chợt tiếng chuông điện thoại, cắt ngang dòng suy nghĩ ấy. Thì ra, ông bạn quen đã gần ba mươi năm, từ thời cùng sống trong cư xá Grünau, thành phố Leipzig. Hắn bảo, ngày tết trốn ồn ào, lễ lạt, nhậu nhoẹt chúc tụng, dắt vợ sang Singapore nghỉ ngơi, vừa giảm cân đỡ bệnh tật, lại tránh được phiền toái… Hàn huyên một hồi, trước khi tắt máy, hắn còn đùa, gần chục năm không về, uổng phí quá. Việt Nam bây giờ đang nhiều chân dài, còn sức nên về chiến đấu, chứ để mấy năm nữa Batterie leer (hết pin) thì hỏng hết bánh kẹo đấy.
Coi nhau là bạn, nhưng thật ra hắn thuộc thế hệ trên tôi. Trước khi sang Đức, hắn đã là người lính vượt Trường Sơn vào Nam oánh cho “Mỹ phải cút, Ngụy phải nhào“. Lại là đảng viên, mỳ chính cánh, nên sau chiến tranh, hắn được cộng mấy điểm, khi thi vào đại học. Ra trường, hắn được ẵm về một cơ quan trung ương, làm trong phòng hành chánh. Nghe có vẻ oai phong, sang trọng, nhưng ngày đó những năm đầu 1980, mấy thằng tư bản đang dãy chết, chưa được phép mang ngoại tệ vào Việt Nam, làm hỏng đường lối kinh tế của cụ Mác. Và phong trào nuốt, ngậm, bán chác, thu hồi đất cát, cũng như tình trạng xin, vay tiền nước ngoài, không như bây giờ, nên hắn chẳng có gì để chấm mút, móc máy. Do vậy, lúc nào hắn cũng trong tình trạng khát, vật vờ. Cái đói thường trực, dài cả cổ họng ấy, buộc hắn phải tìm kiếm.
Bán sức lao động ở nước ngoài, là con đường duy nhất, kéo vợ con ra khỏi cơn khủng hoảng, suy dinh dưỡng toàn phần, hắn có thể thực hiện được. Nào là có quen cả với những Tuấn, Vui, Xuân ở cục hợp tác lao động, nhưng không có đạn bắn, dù đã qua ải thi tiếng Đức, hắn vẫn trượt chân làm đội trưởng như thường. Không thể sống trong sự may rủi, chờ đợi, hắn xung thẳng vào đội quân đánh thuê ở nhà máy dệt may Leipzig.
Được mấy năm, bức tường Berlin sụp đổ, đã có lưng vốn kha khá, cộng với tiền đền bù, hắn chuồn về với vợ con. Trong lúc tranh tối, tranh sáng, đạn dược dư thừa, hắn bắn rụng giá treo, ngồi vào nghế trưởng chi nhánh Hà Nội cho một tổng công ty của nhà nước có trụ sở chính ở Sài Gòn.
Nhưng cái sự đời, của chung không ai khóc, công ty của hắn húp hít nhiều hơn làm ra của cải vật chất, nên hàng năm phải xin ngân sách nhà nước, (thật ra hút tiền thuế của dân) để bù lỗ. Văn phòng chi nhánh của hắn to vật vưỡng, chỉ là nơi xe pháo ra vào nghỉ chân, đàn đúm nhậu nhoẹt của các đấng ngồi trên. Hắn có công đóng góp không nhỏ vào sự tàn phá và bòn rút này. Công ty, nhà máy càng xập xệ, thâm thủng bao nhiêu, thì hắn càng hồng hào béo tốt bấy nhiêu.
Rồi đánh đùng một phát, hắn được hưởng lộc của giời. Công ty của hắn cổ phần hóa. Thế là, đám cánh hẩu, định giá đất cát, tài sản công ty của hắn từ trong Nam ra đến ngoài Bắc, rẻ như bèo. Và cũng chẳng có ông bà công nông dân thấp cổ bé họng nào, vào đây mà tranh giành đóng góp, mua bán với bọn hắn được. Cổ phần của hắn nhiều chỉ đứng sau tay chủ tịch hội đồng quản trị, đương nhiên hắn được nhảy tót lên nắm giữ chức tổng giám đốc. Từ đây, tài lộc của hắn, cứ tịnh tiến. Lấy chỗ nọ đập chỗ kia, tay không bắt giặc, hắn nắm giữ cổ phần tài sản của nhiều công ty, nằm rải rác trong nước. Đất đai, nhà cửa của những địa chủ “cường hào đại gian đại ác“ bị xử bắn trong cải cách khi xưa, chỉ đáng xếp vào hạng đàn em hắt hơi, xì mũi của hắn mà thôi.
Thật là, có khác gì cướp ngày. Cho nên có lần tức khí, tôi hỏi hắn, ông làm thế không sợ có lúc bị mắc nghẹn, chết tươi như thằng Dũng Cảng( Dương Chí Dũng, nguyên cục trưởng hàng hải- là cựu công nhân lao động ở Đức) hay sao? Hắn cười sằng sặc, văng tục: Mua bán đàng hoàng, dây rợ từ trên xuống dưới, chết thế đéo nào được. Dũng Cảng còn nhiều điều uẩn khúc, nhưng nó chết là phải. Còn những thằng cựu công nhân từ Đức về, như tao, Tuấn Thổ(Nông Đức Tuấn)… tằng tằng, còn lâu mới chết nhé.
Đích nhắm tiếp theo của hắn, là rỉa rói một số tài sản, nằm trong 500 doanh nghiệp, nhà máy, nhà nước chuẩn bị cổ phần hóa đến năm 2015 đấy. Qủa thật, nghe nhà nước sẽ cổ phần hóa 500 doanh nghiệp, không riêng tôi mà rất nhiều người có tâm trạng buồn vui lẫn lộn. Vui vì từ nay người dân đỡ bị rút máu nuôi cái đám vật vờ, ký sinh. Buồn vì đất đai tài sản của đất nước lại rơi vào tay bọn đại cường hào mới. Với cái cụm từ cổ phần hóa này, chẳng qua nó là một mĩ từ, che đậy sự biến của công thành của riêng một cách hợp pháp mà thôi. Việc cổ phần, tư nhân hóa là trở lại cái cũ, ông cha ta đã sống với nó, từ mấy ngàn năm qua rồi.
Nhân nhắc đến những cựu công nhân lao động ở Đức, dựa vào vây cánh, gia đình, đường quan (lộ) thẳng tiến, giầu sang ngất ngưởng, làm tôi nghĩ đến ba ông em sang Đức cùng thời, nhưng lại phải về thế giới bên kia quá sớm. Ba ông em này, đều là công nhân hợp tác lao động ở cùng thành phố Leipzig với tôi. Một tên có bố là ủy viên bộ chính trị ĐCSVN và một có bố ủy viên trung ương đảng. Còn cái thằng thân với tôi nhất, nguyên là sinh viên trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội. Can tội đánh nhau trên sân bóng, hai thằng đều bị thương. Nhưng thằng đánh nhau với hắn có bố làm ở trung ương to hơn chức phó chủ tịch tỉnh của bố hắn, nên hắn bị đuổi học. Buồn chán hắn sang Đức lao động. Sau đó, hắn có bố vợ nguyên là sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã viết một truyện ngắn về hắn với tựa đề, Bức Hình Cũ.
Sau khi bức tường Berlin sụp đổ, dù bố còn đương chức, kêu gọi về với công việc và tương lai rộng mở. Nhưng cả ba ông em, dứt khoát từ chối, ở lại nước Đức và chọn công việc gian khổ nhất bán hàng ngoài chợ, rồi đều trở thành những thợ lắc chảo.
Phải nói ba ông em này, rất khí khái, ngoan và lễ phép, có một chút ngang tàng đáng yêu. Nhưng cả ba đều đoản thọ, mất vào cái tuổi trên ba mươi. Chỉ ông em có bố là ủy viên bộ chính trị, bị ung thư gan, biết trước, nên đã kịp đưa về, mất trên đất mẹ. Hai ông em còn lại, đang khỏe như trâu, xóc chảo như điên, đột nhiên bị Schlaganfall (nhồi máu cơ tim), mất ngay trong đêm. Làm cho bạn bè như chúng tôi kinh hãi, đau đớn. Không phải là người mê tín hay tướng số, nhưng trước ba cái chết, có sự trùng hợp kỳ lạ này, đến nay tôi vẫn chưa tìm ra lời giải đáp?
Gần đây, báo chí trong nước, không hiểu hay cố tình không hiểu ý nghĩa câu thành ngữ “danh gia vọng tộc“ để viết về gia đình cũng như bản thân Dương Chí Dũng, cựu Kollege(bạn đồng nghiệp) có thời cùng cảnh làm thuê, cuốc mướn ở Đức với chúng tôi.
“Danh gia vọng tộc“ chỉ những gia đình danh tiếng, chức cao quyền lớn, được mọi người yêu mến và thật sự kính trọng. Tôi không rõ xuất thân của ông Dương Khắc Thụ, cha của Dương Chí Dũng. Nhưng việc ông đưa con cái, dòng họ, trong đó có Dương Tự Trọng, tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa vào ngành cảnh sát, dưới quyền quản lý trực tiếp của mình, tạo nên vây cánh. Thì quả thật, với ông chỉ còn là sự kính sợ, chứ không phải là kính trọng, trong con mắt người đời.
Có câu đồng dao lưu hành trong giới học đường “ Dốt chuyên tu, ngu tại chức“. Tất nhiên, không phải ông bà chuyên tu, tại chức nào cũng ngu và dốt. Nhiều người tự học vẫn giỏi như thường. Nhưng với đồng chí cựu công nhân xuất khẩu Dương Chí Dũng, chỉ cần tráng mỡ ba năm tại chức, đồng chí phọt thẳng lên Tiến sỹ ở trường Đại học thương mại. Khi tôi điện và hỏi thằng bạn phó giáo sư, Tiến sỹ thật (không phải TS đểu vì nó học và làm tiến sỹ ở Canada) đang giảng dạy ở trong nước, về luận văn TS của Dương Chí Dũng. Nó không trả lời, chỉ nghe trong máy có tiếng cười đểu đểu đập thẳng vào tai. Như vậy, cái bằng Tiến Sỹ của Dương Chí Dũng sinh ra để hình thức hóa sự tiến chức, thăng quyền mà thôi. Chứ con người đạo đức, giỏi giang thật sự ai đi làm cái chuyện tàn phá đất nước một cách dã man đến thế.
Như vậy, cái danh, cái vọng gì cho gia đình Dương Chí Dũng ở đây? Vâng! Có lẽ cái danh đó, chỉ là danh giả và sự trọng vọng ấy cũng chỉ còn là sự coi thường, khinh bỉ? Khi báo chí đang cố vớt vát, che đậy lại cho cái bộ mặt thật đó.
Nhưng có một điều khó hiểu, trong vụ án Vinalines, không thấy cơ quan nào, nhắc đến trách nhiệm các bác cấp trên của Dương Chí Dũng. Chả lẽ, các bác vẫn giữ thói quen, được khoe, thua không biết hoặc im lặng…Thành ra vẫn phải nói: Không có cái nghề gì dễ bằng làm quan thời nay.
Năm mới cầu mong, ông bạn (cùng thời lao động ở Đức) hãy tránh xa (quả bom) 500 công ty sắp được cổ phần hóa. Đêm giao thừa năm tới, vẫn còn gọi điện được cho tôi. Bằng không, phải ngồi viết văn tế sống như cho cựu Kollege Dũng Cảng thì buồn lắm.
Leipzig- ngày đầu xuân Giáp Ngọ 2014
Đỗ Trường

VIỆT NAM LÀ CON CỜ CỦA TRUNG QUỐC VÀ HOA KỲ

TQ, Mỹ Khảo Sát Chung Ở Biển Đông

Tàu Joides Resolution sẽ hoạt động ở Biển Đông 62 ngày
BBC - 29.1.2014: Trung Quốc đang chi 6 triệu đôla cho một nhóm khoa học gia khảo sát ở Biển Đông, trong có vùng biển đang tranh chấp với Việt Nam.

Đây là chuyến đi trong khuôn khổ Chương trình Thám hiểm Đại dương Quốc tế (IODP) của Mỹ.

Báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng cho hay chuyến khảo sát do Trung Quốc chủ trì bắt đầu từ thứ Ba 28/1. Tàu mang thiết bị khoan thăm dò đại dương có tên Joides Resolution vừa rời cảng Hong Kong và sẽ hoạt động ở Biển Đông trong thời gian 62 ngày.

Trên tàu là nhóm chuyên gia địa chất 31 thành viên, trong đó có 13 người Trung Quốc, chín người Mỹ và một người Đài Loan. Phụ trách kỹ thuật là Quỹ Khoa học Tự nhiên (NSF) của Hoa Kỳ.

Philippines, quốc gia cũng đang tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, cử một quan sát viên.

Việt Nam chưa có phản ứng gì về việc này.

Trước đây, Hà Nộ̣i từng phản đối các hoạt động thăm dò của nước ngoài tại vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.
Bản đồ dầu khí

Nhiệm vụ của đoàn khảo sát là tìm hiểu về kiến tạo ở Biển Đông nhằm vẽ ra bản đồ các mỏ dầu và khí đốt trong khu vực.

Các khoa học gia sẽ khoan 1.930m dưới đáy biển, sâu nhất từ trước tới nay.

Trung Quốc đã đề xuất làm công việc này từ 2008 và năm nay được IODP chấp thuận, có thể vì số tiền tài trợ Bắc Kinh đề xuất quá lớn, chiếm tới 70% chi phí của đợt khảo sát.

Tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc, Việt Nam và Philippines khiến việc thăm dò-khai thác dầu khí ở Biển Đông thêm phức tạp và có khả năng gây xung đột.

Việt Nam đã cáo buộc Trung Quốc nhiều lần cắt cáp thăm dò dầu của PetroVietnam, tập đoàn dầu khí nhà nước.

Trung Quốc tham gia IODP từ năm 1998 và từng khảo sát Biển Đông nhưng chi ở khu vực phía bắc.

Khu vực khảo sát lần này có các vùng biển do Philippines và Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Đoàn khảo sát đang chờ Việt Nam chuẩn thuận cho họ khoan tại một khu vực ở tây nam Biển Đông, nếu không được có thể họ sẽ chọn địa điểm khác.

Kết quả khảo sát sẽ được công bố toàn cầu.

NHẮN NHỦ TỪ HOÀNG SA: DÂN TỘC – QUỐC GIA LÀ TỐI THƯỢNG!



Ngày 19/1, tại tp. Đà Nẵng có Hội thảo khoa học nhân sự kiện 40 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa. Dưới đây là phát biểu của TS Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, tại buổi Hội thảo đó:

NHẮN NHỦ TỪ HOÀNG SA: DÂN TỘC – QUỐC GIA 
LÀ TỐI THƯỢNG!

Đinh Hoàng Thắng

* Nay là lúc chúng ta nên tự vấn lương tâm đã làm gì để “đưa Hoàng Sa gần với đất liền”, để trở thành “công dân danh dự của Hoàng Sa”. Cả ba lần Trung Quốc đem quân thôn tính Hoàng Sa vào các năm 1909, 1956 và 1974 đều trùng vào thời điểm Việt Nam đối mặt với chiến tranh và chia cắt. ASEAN, Mỹ, Nhật và nhiều nước khác hiểu rất rõ, Trung Quốc không chỉ bắt nạt một mình Việt Nam. 

* Hoàng Sa và Trường Sa từ nay là chất men mới để giáo dục lòng yêu nước. Đảo bị chiếm không đồng nghĩa với đảo bị mất! Để giành lại Hoàng Sa và một phần Trường Sa bị cưỡng chiếm, phải coi trọng cuộc đấu tranh chính trị và pháp lý. Chỉ một chút thờ ơ với bảo vệ chủ quyền biển đảo, lãnh thổ của đất nước, nơi bao máu xương cha ông đã đổ xuống để gìn giữ, cũng là đắc tội với tổ tiên. 

Trận hải chiến bi hùng xẩy ra cách đây 40 năm nhắn nhủ chúng ta điều gì, nhìn từ hôm nay? Có thể có ba thông điệp. Thông điệp đầu tiên, đó là lợi ích của quốc gia – dân tộc bao giờ cũng là tối thượng! Một khi biết đặt chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc lên trên hết, mọi trở ngại khác đều có thể tìm ra phương hướng giải quyết.Thông điệp thứ hai, lợi ích quốc gia, quyền lợi dân tộc không phải là điều gì trừu tượng, ngược lại nó mang nội dung rất cụ thể và sát sườn đối với mọi người Việt yêu nước. Lợi ích này còn gắn bó chặt chẽ với lợi ích của khu vực và quốc tế. Thông điệp thứ ba, 40 năm trôi qua, nay là lúc mỗi chúng ta, nên tự vấn lương tâm, đã làm gì để “đưa Hoàng Sa gần với đất liền”, để trở thành “công dân danh dự của Hoàng Sa”, làm gì để giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa? 

Mất Hoàng Sa, không giữ được Trường Sa sẽ mất Biển Đông. Mà mất Biển Đông là sẽ mất con đường sống, mất một hải lộ giao thương huyết mạch của quốc gia, của các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam và tuyên bố của nhiều nước trong những ngày qua đang cho thấy tính nghiêm trọng của vấn đề. Ở thời khắc hiện tại, khi chúng ta tưởng niệm ngày quần đảo Hoàng Sa bị chiếm đóng, dù chỉ rộng có 8 cây số vuông, nhưng những thông điệp từ Hoàng Sa ngày ấy đã xuyên suốt không gian và thời gian, giờ đây đang trở nên bức bách và đáng báo động. Trên thực tế, những thông điệp ấy đang vượt ra khỏi mọi khuôn khổ tưởng niệm hay hội thảo khoa học trong những ngày này. Sau đây, tôi xin trình bày sâu hơn từng nội dung của mỗi thông điệp:

1. Chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc là tài sản quý nhất

Các chuyên gia sẽ còn mất nhiều thời gian nghiên cứu các sự kiện 19/1/1974 và 14/3/1988 để tiếp tục rút ra bài học cho những người Việt hôm nay và các thế hệ mai sau. Chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ không thuộc sở hữu của riêng ai. Đó là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 6 Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 16/10/2012 đã cam kết: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư là một tập thể lãnh đạo kiên quyết bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia”. Nhưng chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc không chỉ là vấn đề của lãnh đạo đất nước, đó còn là vấn đề của toàn dân. Hơn thế nữa, đó từng là khát vọng ngàn đời của những người con đất Việt từ khắp mọi góc bể chân trời.

Lấy chủ quyền quốc gia/độc lập dân tộc làm hệ quy chiếu sẽ thêm điều kiện cho khối đoàn kết toàn dân vững mạnh. Bởi vì, cả ba lần Trung Quốc đem quân thôn tính Hoàng Sa vào các năm 1909, 1956 và 1974 đều trùng vào thời điểm Việt Nam phải đối mặt với chiến tranh và chia cắt. Do hoàn cảnh ấy, tiềm lực quốc gia và đồng thuận xã hội bị suy giảm. Nay công nhận 74 chiến binh Việt Nam CH như đã từng công nhận 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam trong vụ thảm sát Gạc Ma là liệt sĩ, là cắm một cột mốc quan trọng trên con đường hòa hợp-hòa giải. Thống nhất giang sơn đã khó, thống nhất lòng người còn khó hơn. Một dân tộc sẽ không thể trưởng thành nếu lòng dân ly tán. Không có hòa hợp-hòa giải, sẽ không có dân chủ-pháp quyền. Thiếu dân chủ-pháp quyền sẽ không có phát triển-thịnh vượng.

Nhìn từ lợi ích quốc gia, chúng ta càng thấm thía hơn bài học cảnh giác. Trong quan hệ quốc tế, không thể “thật dạ tin người”. Mọi thứ đều có thể thay đổi, chỉ có bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và thống nhất quốc gia là không bao giờ thay đổi. Chính sách ngoại giao của ta, được công bố ngay từ những ngày nền cộng hòa dân chủ còn trong trứng nước, đó là chính sách ngoại giao có tính dân tộc và dân chủ. Chính sách ấy lấy tư tưởng Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến” làm điểm xuất phát. Qua những năm Đổi mới, chính sách ấy nhấn mạnh chủ trương “đa dạng hóa, đa phương hóa”. Đa phương hóa các quan hệ quốc tế là bất biến, tạo ra và duy trì thế “cân bằng động” là bất biến để tùy cơ ứng biến với những điều đang và sẽ thay đổi của các đối tác, trong đó hàng đầu là của các cường quốc.

Một điều “bất biến” nữa giữa Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng cùng chung biên giới/biển đảo. Hai nước phải sống chung với nhau là điều vĩnh viễn và không thay đổi. Tuy nhiên, cuộc sống chung ấy cần được xây dựng trên sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là trong tương quan “bất biến” với chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức ra điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “vạn biến” như “mười sáu chữ”, hay “bốn tốt” đều có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu họa khôn lường cho đất nước! Chỉ cần hữu hảo ở mức tối thiểu với nước ta, thì Trung Quốc đã không thể công bố lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông trong những ngày này khi khắp cả nước ta đang tưởng niệm 40 năm ngày Hoàng Sa bị cưỡng chiếm. 

2. Phải gắn tài sản nói trên với người dân, với khu vực và quốc tế

Lợi ích quốc gia, quyền lợi dân tộc không phải là điều gì trừu tượng, ngược lại đó là những điều rất cụ thể, rất sát sườn đối với mọi người Việt Nam. Lợi ích quốc gia – dân tộc gắn với đời sống mưu sinh hàng ngày của mọi người dân. Đất nước ta ba phần là biển, một phần là đất. Vậy mà trong số nhiều bộ, nhiều ngành đang quản lý “một phần là đất” kia, vẫn chưa hề có Bộ Kinh tế Biển. Tưởng niệm 40 năm Hoàng Sa thất thủ là dịp chúng ta nên ngẫm lại về “tư duy biển”, về “triết lý phát triển biển”. Tư duy đó, triết lý đó đang phát triển hay tụt hậu? Những ngày Trung Quốc ban bố lệnh cấm đánh cá trên hầu hết 2/3 diện tích Biển Đông này, chúng ta yêu cầu gì, nếu như không phải là yêu cầu chính đáng, ngư dân ta mỗi lần ra khơi đánh bắt xa bờ phải được tự vệ và cần được bảo vệ.

Tình cảm của những ngư dân có cuộc sống cheo leo giữa biển khơi sóng dữ trong những ngày này không phải là thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vị kỷ. Quyền lợi của Việt Nam gắn bó với quyền lợi của cả khu vực và quốc tế. ASEAN, Mỹ, Nhật và nhiều nước châu Á khác đều hiểu rất rõ: Trung Quốc đâu chỉ bắt nạt hay bắt bí một mình dân Việt Nam. “Chuông nguyện hồn ai?” Các nước trong khu vực và trên thế giới nhận thức từ rất sớm, chuông nguyện chính cả bản thân mình. Đài Loan, Philippines, Mỹ và Nhật Bản đều đã lên án Trung Quốc. Hy vọng lần lượt sẽ có phản kháng từ các nước khác. Trung Quốc không thể biến một hải lộ vận tải quốc tế có ý nghĩa sống còn đối với nhiều nước thành cái ao nhà của mình. “Những kẻ bắt cóc trên biển” không thể tự tung tự tác, múa gậy vườn hoang như thế.

Chủ nghĩa khu vực “mở” sẽ là nguồn sức mạnh. Các quốc gia trong vùng không thể “khấu đầu” trước một Trung Quốc hung bạo, hành động trái với đạo lý và luật pháp quốc tế. Nếu cứ chấp nhận như vậy, sau lệnh cấm đánh bắt cá và các tàu thuyền lưu thông trên Biển Đông phải xin phép nhà đương cục Hải Nam thì tới đây, Trung Quốc có thể sẽ thiết lập ADIZ trên Biển Đông và cứ thế tiếp tục leo thang. Kết quả là DOC bị Trung Quốc chà đạp, COC sẽ không đi đến kết cục như đa số thành viên ASEAN mong đợi. Biển Đông sẽ căng thẳng hơn và hỗn loạn. Các nước trong vùng buộc phải chạy đua vũ trang. Khu vực giống như một thùng thuốc súng. Tình trạng “bên miệng hố chiến tranh” sẽ lấn át viễn cảnh hòa bình. An ninh và an toàn hàng hải trên Biển Đông sẽ bị đe dọa từng phần và toàn cục.

3. Chúng ta làm gì vì Hoàng Sa và Trường Sa?

Không một quốc gia nào đón đợi viễn cảnh nói trên, trừ những kẻ rắp tâm gây ra trạng huống ấy. Vì vậy, thông điệp thứ ba từ Hoàng Sa chính là trách nhiệm chúng ta đối với sự nghiệp bảo vệ biển đảo của Tổ quốc. Trong những ngày này, một lần nữa, xin đề nghị nhà nước CHXHCN Việt Nam chính thức công nhận 74 chiến binh của Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh để bảo vệ Hoàng Sa cách đây 40 năm là những liệt sĩ. Vẫn biết, sự tôn vinh trong trái tim nhân dân là sự tôn vinh cao nhất và vĩnh hằng. Nhưng như đã nói ở trên, sự công nhận chính thức của nhà nước cũng là “nhất cử lưỡng tiện”. Nhân đây xin đề xuất: đưa các cuộc chiến đấu bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa, đưa các cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1978 và biên giới phía Bắc năm 1979 vào sách giáo khoa lịch sử.

Đảo bị chiếm không đồng nghĩa với đảo bị mất! Để giành lại Hoàng Sa và một phần Trường Sa, phải coi trọng cuộc đấu tranh chính trị và pháp lý. Trung Quốc đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng là hoàn toàn đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế. Dù Trung Quốc không đồng ý, Việt Nam vẫn phải thu thập, hoàn chỉnh hồ sơ trên cả hai mặt: tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp hàng hải. Phải dầy công nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm để Việt Nam đưa Trung Quốc ra Tòa án quốc tế. Hành vi này, trước hết, nhằm duy trì tính liên tục trong các tuyên bố về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo và các đảo bị chiếm đóng. Một vụ kiện Trung Quốc ở thời điểm hiện nay sẽ giúp Việt Nam thoát được cái bẫy “nguyên tắc đồng thuận” được quy định tại Tòa quốc tế.

Trung Quốc thường biện bạch về những “cơ sở lịch sử”, vì nhìn chung, Trung Quốc là quốc gia có truyền thống làm sử được xếp hạng trên thế giới. Tuy nhiên, tư liệu lịch sử thật của họ về biển đảo lại đuối lý hơn so với chúng ta. Trên thực tế, Trung Quốc là một “quốc gia lục địa” chứ không đủ điều kiện để được coi là quốc gia biển (do tỷ lệ đường bờ biển trên tổng diện tích lãnh thổ là một tỷ lệ thấp). Triết lý phát triển của họ xưa nay là “tư duy lục địa”. Não trạng người Trung Quốc là não trạng của cư dân bình nguyên và thảo nguyên chứ không phải là não trạng của ngư dân. Họ từng quay lưng ra biển từ hàng mấy ngàn năm trước. Có vô số chứng cớ về việc các triều đại phương Bắc đã giao phó trách nhiệm về Biển Đông cho các vua chúa Việt Nam, còn Trung Quốc chủ yếu “ngồi chờ báo cáo”.

Ngày nay cần gắn bảo vệ chủ quyền biển đảo với Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (10/4/2013) về việc tích cực và chủ động hội nhập toàn diện. Nghị quyết chỉ rõ, đường lối của nhà nước trong vấn đề biên giới lãnh thổ giúp ta tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế đối với chính sách đúng đắn và lập trường chính nghĩa của Việt Nam. Trong khi nỗ lực phát huy sức mạnh nội tại, hội nhập quốc tế sẽ giúp chúng ta nâng cao tiềm lực mọi mặt, trong đó có tiềm lực quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc. Hội nhập toàn diện kiến tạo nên hệ thống đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, giúp ta cộng hưởng chặt chẽ hơn với khu vực và quốc tế trong việc thúc đẩy thực thi các hiệp định, hiệp ước ký kết với láng giềng, trong đó có các văn kiện liên quan đến biên giới, biển đảo, góp phần duy trì hòa bình và an ninh khu vực.

*

Tưởng niệm ngày Hoàng Sa bị chiếm đóng, chúng ta nhận thức rằng, biển đảo chỉ là một trong nhiều vấn đề hiện nay của bang giao Việt-Trung. Giới học thuật Trung Quốc gần đây đã tiết lộ một số quan điểm khá thực tiễn về tổng thể quan hệ Trung-Việt. Trong một bài viết của mình, tác giả Kha Tiểu Trại cho rằng không có cơ sở để tìm được “sự đột phá” trong quan hệ với Việt Nam. Quan hệ Trung-Việt chỉ có thể xếp trên quan hệ của Trung Quốc với Philippines. Theo tác giả, sự tương đồng ý thức hệ không phải là cơ sở cho “sự đột phá”. Thực tiễn lịch sử bang giao hàng ngàn năm nay đã chứng minh xu thế không mấy tích cực trong quan hệ giữa hai nước sau khi đã được bình thường hóa. Vẫn theo nghiên cứu gia này, điều cần làm hiện nay là phải “tái bình thường hóa” bang giao Trung-Việt.

Để kết thúc tham luận, xin nhắc lại ý kiến của nhiều chuyên gia: Hoàng Sa và Trường Sa từ nay là chất men mới để giáo dục lòng yêu nước. Hãy cổ võ trên cả nước các chương trình “Nhịp cầu Hoàng Sa”, “Ngàn thanh niên thế kỷ 21”, “Giấc mơ Việt Nam”, “Chương trình Minh triết về Biển Đông”, “Nuôi chí giành lại Hoàng Sa”. Từng cá nhân hãy xây dựng cho mình kế hoạch nâng cao năng lực bản thân để tăng sức mạnh cộng đồng. Hãy tích cực góp phần thực hiện tốt hòa giải, hòa hợp dân tộc, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế toàn diện, xây dựng đất nước trong ấm ngoài êm. Đó mới là nền tảng lâu bền để giữ vững Trường Sa và đòi lại Hoàng Sa. Chỉ một chút thờ ơ với bảo vệ chủ quyền biển đảo, lãnh thổ đất nước, nơi bao máu xương cha ông đã đổ xuống để gìn giữ, cũng là đắc tội với tổ tiên./.      
           
Tác giả gửi cho viet-studiesngày 28-1-14

Điếu Cày gửi lời chúc tết từ ngục tối



Đoạn ghi âm lời nhắn gửi và chúc tết của blogger Điếu Cày

Danlambao - Vào lúc 2 giờ 30 chiều ngày 22/1/2014, blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải đã gọi điện thoại cho con trai Nguyễn Trí Dũng để thăm hỏi gia đình và gửi lời chúc tết đến tất cả bạn bè gần xa.

Theo quy định của trại giam, mỗi người tù chỉ được gọi điện thoại về nhà với thời gian tối đa là 5 phút trong một tháng. Trong cuộc nói chuyện ngắn ngủi, ngoài việc hỏi thăm và dặn dò chuyện gia đình, blogger Điếu Cày cũng cập nhật một số thông tin trong tù như yêu cầu được chăm sóc y tế của anh không được phía trại giam trả lời.

Điếu Cày cho biết, anh đã gửi hai lá đơn kháng nghị đến Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân tối cao, tuy nhiên những lá đơn này chưa được phía trại giam chuyển ra ngoài. Vì vậy, anh dặn dò gia đình thực hiện việc gửi đơn kháng nghị ở bên ngoài.

Nhân dịp sắp bước sang năm mới, Điếu Cày gửi lời cảm ơn, chúc tết đến tất cả bạn bè gần xa, các tổ chức trong và ngoài nước luôn quan tâm, ủng hộ anh. 

Blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải năm nay 62 tuổi, chuẩn bị đón cái tết thứ 6 trong tù tại trại giam số 6 thuộc tỉnh Nghệ An, nơi cách xa gia đình 1500 km.

THỜI GIAN CỦA MỘT TIẾNG THỞ PHÀO



1
* Bất an ở Thái An – Dự án Nhà máy ĐHN Ninh Thuận II.
[Nhật kí “Cham trong lò hạt nhân”(*)]
Hãy yêu, hãy yêu như ta chưa từng
những đứa con đi hoang bỏ xa làng mạc
mang bụi đất quê hương về miền xứ khác
Và hãy yêu hơn con người chân chất
sống một đời ôm mang đất – phù du
Inrasara, Trường ca Quê hương, 1996.
Thời 1.
Sáng ngày 26-4-1986 giờ địa phương, lò phản ứng số 4 của nhà máy điện hạt nhân Chernobyl phát nổ. Sau đó là hàng loạt các vụ nổ khác, dẫn đến hiện tượng tan chảy lõi lò phản ứng. Và rồi là các thống kê về những thiệt hại cùng cảnh báo về hiểm họa lâu dài…
Qua đài BBC, VOA, một ít người Cham có nghe sự cố này. Nhưng họ bàng quan. Như thể chuyện xảy ra ở thế giới nào đó, không can hệ gì đến mình. Chúng tôi háo hức chờ đợi cái chân trái ma thuật của Maradona ở kì World Cup sắp tới, hơn là sinh mệnh bộ phận nhân loại nào đó đang chịu thảm họa hạt nhân, thứ thảm họa nghe nói – không màu không mùi không vị, và còn xa diệu vợi.
Ngày 25-11-2009, vnexpress.net đưa tin:
“Theo nghị quyết được 77% đại biểu thông qua, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận gồm 2 nhà máy. Nhà máy Ninh Thuận 1 đặt tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, được khởi công vào năm 2014 và đưa tổ máy đầu tiên vận hành vào năm 2020.”
Bà con Cham vẫn lơ mơ, nghĩ đó là chuyện làng nước, hơi đâu mình quan tâm cho nhọc lòng. Lòng dân thế này, ý nghị quyết thế kia. Lòng dân vốn rộng lượng bao dung, thì có chiều ý nghị quyết tí, chả sao cả.
Ngày 11-3-2011: Động đất và sóng thần kéo theo hàng loạt sự cố tại nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima, dẫn đến thảm họa kép, tại Nhật Bản. Gần, không thể gần hơn.
Chiều tối, ông doanh nhân Nhật quê vùng phụ cận nhà máy ĐHN kia đang phát quà cho phụ nữ Cham palei Cakleng tôi, nghe tin, ngưng phát biểu, nhướng mày lên, rồi tiếp tục. Ngay sáng hôm sau, ông lên xe quày trở lại Sài Gòn.  
Bà con, anh chị em Cham nhìn nhau. Rồi liên tục, khi chứng kiến trên tivi, đàn đàn xe hơi trôi, nhà trôi, làng mạc và thành phố trôi cuốn cả vạn sinh phận người trôi, mỗi ngày, Cham mới ngơ ngác hỏi nhau: làm sao đây? Làm thế nào đây?
Tôi mới giật mình nhớ lại hơn hai năm trước.
Tháng 11-2009, giỗ mẹ. Tối, tôi đón xe đò về quê. Đến nhà thì trời vừa sáng. Em gái nói, có anh tiến sĩ từ Hà Nội bay vào Phan Rang từ hôm qua, đang chờ. Chờ tôi. Xế chiều, em gái trải chiếu xe cho hơn hai mươi anh em bằng hữu tôi từ các làng đến giỗ mẹ, ngồi. Ngồi nghe vị tiến sĩ thuyết về dự án Nhà máy ĐHN Ninh Thuận. Để xin được lắng nghe ý kiến sơ khởi của trí thức Cham. Anh thuyết về thế hệ lò hạt nhân tiên tiến nhất, về ưu tiên cho an sinh, nhất là lợi ích điện hạt nhân mang đến cho cộng đồng. Thôi thì đủ cả.
Đây không là hội nghị hay cuộc họp chi chi, mà là nhà tôi. Các bạn, các bác hỏi bất cứ gì thấy thích… – Tôi nói.
Thế xin hỏi Cham tui có phải bị di dời đi đâu không?
Bà con nghe nói nó hay xì, cứ nơm nớp lo sợ, cậu nó có gì làm bảo đảm không?
Tiến sĩ nói an toàn, tôi thấy chả an tâm tí nào cả!
Sao không xây ở nơi nào khác mà cứ nhè đất Cham mà làm?
Tôi chẳng biết nhiều nên xin miễn ý kiến, đời người có số má cả, có lẽ phải vào sống nhờ Đồng Nai với con gái thôi.
Nếu có sự cố rò rỉ, cả khu vực này nhiễm xạ hết, hỏi người Cham làm Katê ở đâu?
Nếu Cham chúng tôi quyết không đồng ý, các anh tính làm gì nào?
Vâng, tiến sĩ nói có lợi thì đúng lắm, nhưng tiến sĩ nói với trên xem lại có thể xin dời lò hạt nhân qua đâu cho bà con Cham yên tâm không?…
Thôi thì đủ giọng đủ kiểu hỏi. Kiểu chi kiểu, mọi câu hỏi đều đổ dồn về một mối: làm gì bây giờ? Bà con Cham dù lòng chả lấy gì làm tin, cũng ngóng về vị đại biểu mà mình từng cất lá phiếu bầu…
Ngày 29-3-2011, vneconomy.vn đưa tin:
“Đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương phản ánh, hiện nay nhiều cử tri đang rất lo lắng, tâm tư về tình hình tiến độ của dự án nhà máy điện hạt nhân.
“Nhưng mà thực lòng, tôi chưa nắm bắt được thông tin cụ thể để mà giải thích cho nhân dân”, bà Hương nói. Bởi vậy, vị đại biểu là người Ninh Thuận này mong muốn qua truyền hình trực tiếp, chủ tọa phiên họp tạo điều kiện cho cử tri nghe một cách chính thống về lời phát biểu của Chính phủ về công trình nhà máy điện hạt nhân đầu tư tại tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới. “Tôi thiết nghĩ, nếu thực sự tốt thì ta cứ công khai, để tạo sự đồng thuận mạnh mẽ trong nhân dân. Có sự thống nhất quyết tâm cao thì chúng ta sẽ có sức mạnh vững chắc, và sẽ làm thành công”.
Hứng lên, “mong muốn” là vậy, nhưng rồi sau đó và cả bây giờ hay trước nữa, không thấy bà đại biểu đi vào các palei Cham, phát biểu đâu đó cụ thể hơn lại càng không. Đại biểu Cham đã xa lạ càng xa lạ hơn với cộng đồng Cham nhỏ bé.
2
* Vĩnh Trường – Dự án Nhà máy ĐHN Ninh Thuận I: Hoãn!.
Thời 2.
Ngày 9-3-2012, chuẩn bị cho kỉ niệm một năm thảm họa hạt nhân Fukushima, tôi thử đo lòng người, bằng trích đăng những lời cảnh báo của các chuyên gia và trí thức trong và ngoài nước về hiểm họa hạt nhân trên trang nhà Inrasara.com. Nhà văn Nguyên Ngọc, cựu Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết, giáo sư Phạm Duy Hiển – nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt…
Hiện chưa làm gì hết, năm 2014 mới bắt đầu xây, mới chỉ thỏa thuận trên nguyên tắc thôi, chứ đã ký kết mua bán xong gì đâu mà không cho rút lui. Bây giờ vẫn còn thì giờ để rút lui và tôi xin cam đoan là Chính phủ thế nào cũng rút lui. Không thể nào đi tiếp được, bởi vì đi tiếp thì nó sẽ là Fukushima đấy” (Nguyễn Khắc Nhẫn).
Tối 10-3-2012, BBC phát bài trả lời phỏng vấn: “Bất an về điện hạt nhân lan rộng”. Bài post lênInrasara.com, 12-3-2012 đã tạo phản ứng dây chuyền. Cư dân mạng Cham hốt hoảng dự cảm một thứ thảm họa xa lạ sắp xảy đến với mình, thế là lao vào còm. Đến người phụ trách trang mạng không kịp điều tiết, không kịp trả lời thư, không kịp giải thích tại sao một số ‘phản hồi’ bị cắt… Tình thế đẩy tôi vào triệt buộc phải lí giải.
Ngày 15-3-2012, “Inrasara đối thoại với độc giả xung quanh dự án Nhà máy Điện Hạt nhân ở Ninh Thuận” đăng Inrasara.com và mạng Tienve.org (Úc) cùng ngày.
Qua “phản hồi”, tôi hiểu các bạn trẻ Cham đang mất phương hướng. Các câu hỏi dồn đến tới tấp. “Đối thoại” làm thao tác cần thiết để hệ thống lại các câu lại thành 6 đề mục, khởi động cho Cuộc thảo luận về dự án ĐHN kì 1, với tiêu đề “Người Cham nghĩ gì về ĐHN?”.
“Người Cham Ninh Thuận cư trú ở mảnh đất này trên 2.000 năm, với một nửa dân số trên toàn đất nước Việt Nam, hơn nữa đây còn là nơi hội tụ hơn trăm điểm tôn giáo – tín ngưỡng đang được thờ phụng. Khi có họa hạt nhân, 30km bán kính bao gồm cả 3 cụm tháp thiêng sẽ thuộc vùng cấm. Không ai dám lai vãng, tháp sẽ thành tháp hoang, và KutGhur cũng sẽ thành hoang!… Điều cần nhấn mạnh là cộng đồng Cham, mỗi sáng thức dậy nhìn thấy Nhà máy ĐHN đang chạy, lo lắng cho tương lai bấp bênh – hỏi làm sao họ có thể an cư lạc nghiệp”.
Thời 3.
Ngày 18-3-2012, Trà Vigia viết “Cham trong lò hạt nhân” đăng Inrasara.com, một phản ứng “cực chẳng đã” của nhà văn nông dân này. Cay đắng, trào lộng và bất lực. Tùy bút của Trà lên trang nhất AnhBaSam đã tạo hiệu ứng đặc biệt. Nó lôi kéo bạn trẻ Cham vào cuộc. Palei Krong với bài “Ba tiếng kêu cứu của 3 con thú bị thương”, ngay sau đó là Chay Dalim: “Suy nghĩ về ý nghĩa của từ trí thức & vai trò trí thức”, rồi Paka Jatrang đặt vấn đề “Trí thức Cham và sự phản biện xã hội”,Inrasara.com, 22-3-2012.
Bà con lần nữa gắng gượng ngóng tiếng nói từ Đại biểu Quốc hội của mình – vắng ngắt! Chán giận, thất vọng đẩy “phản hồi” cuộc thảo luận sa đà, khiến tôi cấp kì nêu “Vài lưu ý chân tình của Inrasara”.
Ngày 30-3-2012, Boxit.vn đăng khảo luận của Inrasara “Cham Pangdurangga, ngang bướng, đau khổ, kiêu hãnh và bất an” như một cách đặt nền tảng cho các cuộc trao đổi, thảo luận. Sau một “Sơ kết phản ứng của đồng bào Cham về Dự án Nhà máy ĐHN ở Ninh Thuận”, tôi thử ướm:
“… việc trưng cầu dân ý cần được nêu ra trước nhất. Nhưng làm sao kết quả của trưng cầu dân ý khả tín nhất? Thứ nhất, cơ quan hữu quan cần cung cấp đầy đủ thông tin về dự án tới đồng bào; thứ hai, cho bà con hiểu rõ về ý thức dân chủ, về quyền tự quyết của một công dân trách nhiệm; cuối cùng là tạo không khí cởi mở để người Cham và dân Ninh Thuận có thể thể hiện chính kiến của mình mà không vướng một trở ngại nào bất kì.”
Thiện ý ngay tức thời được đón nhận hứng khởi, bên cạnh là một cảnh giác bất an. Trưa 30-3-2012, tôi nhận email của một “Độc giả thơ Inrasara” gửi. Thư: – Cảm phục Inrasara vì dám nói thẳng quan điểm của mình về ĐHN Ninh Thuận. – Diễn đàn bị vài người lợi dụng để phát ngôn tùy tiện, nói xấu những người có trách nhiệm. – và… Inrasara cần cân nhắc khi tiếp tục bàn về vấn đề này, vì nó đã được Quốc hội thông qua.
Tôi đã có thư trả lời cho “độc giả” yêu thơ Inrasara ấy. Thư dài [dòng] nhưng câu kết thì ngắn: “Bạn tin tôi đi, Inrasara có đủ khả năng và bản lĩnh để điều tiết website của mình”.
Ngày 19-4-2012, thi sĩ trẻ Đồng Chuông Tử viết “Điện hạt nhân và giấc mơ Phù Đổng” đăng trênBBC báo động theo cách khác nữa.
Ngày 14-5-2012, Kháng thư về ĐHN của ba nhà trí thức: Nguyễn Thế Hùng – Nguyễn Xuân Diện – Nguyễn Hùng lên mạng Boxit.vn, là cái phao đầu tiên ném ra giữa trùng khơi bão tố. Người Cham sau vài hoảng loạn hay chần chừ, đã nhập cuộc bình tĩnh hơn.
Quần chúng Cham chìm ngập trong mưu sinh qua ngày, sinh viên thì bồng bột nóng vội là thế, còn trí thức Cham? Họ đi đâu hết rồi?
Ngày 28-5-2012, trả lời bạn đọc xung quanh dự án ĐHN, với tiêu đề “Trí thức Chăm và Điện Hạt nhân” đăng Inrasara.com, tôi nhắm đến đối tượng này, để khởi xướng cho Cuộc thảo luận về dự án ĐHN kì 2.
Trà Vigia viết tùy bút “Tôi kí tên” đăng Inrasara.com, ngày 16-6-2012, lí giải nguyên do xa và gần anh đặt bút kí vào Kháng thư, dù bản thân là kẻ có “văn hóa sợ”.
Tiếp đến, ngày 5-6-2012, độc giả Lưu Văn có bài so sánh thú vị đầy đau đớn: “Con dân Ninh Thuận & 2 con số” đăng trên Inrasara.com:
“Do trang website Inrasara.com có thông báo ngưng thảo luận về ĐHN kì hai từ mấy ngày trước, cho nên tôi không bàn trực tiếp về ĐHN, mà bàn về ý nghĩa 2 con số. 20 ngày chẳn tính từ ngày 14-5 đến cuối ngày 4-6-2012, từ khi bức Kháng thư về ĐHN kêu gọi chữ ký được gửi đi các nơi. Trong số 621 người ký vào Kháng thư, cộng đồng cư dân tỉnh Ninh Thuận và bà con Chăm có được 68 chữ ký/ 69.000 người; trong khi người Kinh Ninh Thuận chỉ vỏn vẹn 6 chữ kí/ 574.000 người”.
Đọc con số đối sánh, mà hẫng. Trong lúc những sinh phận vô danh Cham ý thức được sinh phận mình, ý thức thể hiện qua hơn trăm còm sĩ tham gia thảo luận, sau đó là 68 chữ kí bày tỏ chính kiến, thì hầu như không có trí thức khoa bảng hay cán bộ “cao cấp” Cham nào nhúc nhích. Và trong khi bà con Cham cảm nghe bất an lan rộng thì hầu như người dân tộc anh em của họ – đồng bào Kinh Ninh Thuận như không hay không biết chuyện gì đang xảy ra, sắp xảy ra.
Người Cham có sợ không? – Chắc chắn là có. Vậy tại sao họ dám kí? Người Kinh có sợ không? – Cũng có. Nhưng tại sao?… Người Việt nói: “Đất lành thì ở, đất lở thì đi”. Người Cham không hẳn đã vậy. Dù mảnh đất kia có lở tới đâu, họ vẫn ở lại. Vì họ biết, đó là miền đất cuối cùng ông bà họ để lại.
Giữa tháng 6-2012, đại diện cơ quan an ninh mời tôi cà phê (rất văn minh lịch thiệp, chứ không thô nhám như thái độ mời cà phê liên quan đến HS-TS), nhắc khéo tôi nên kết thúc thảo luận. Tôi nói, không phiền trên đâu, tôi đã đóng cửa “phản hồi” cả tuần nay rồi. Ba điểm chính: Một nửa con dân Cham ở Việt Nam sống đất Ninh Thuận, là vùng bị ảnh hưởng – Ông bà họ có mặt ở đó từ trên 2.000 năm – Cùng hơn trăm điểm tôn giáo tín ngưỡng đang được thờ phụng. Tôi cần thiết cho người đồng tộc mình biết điều đó, cho nhà hoạch định chính sách Việt Nam hiểu điều đó, và cho cả thế giới nhận ra điều thật đó. Qua hai cuộc thảo luận, tôi đã biết bà con tôi cảm nhận thế nào, biết giới có học Cham phản ứng [và không phản ứng] ra sao rồi. Cuối cùng qua ‘so sánh’ hai con số, tôi cũng đã biết người Kinh ở Ninh Thuận thân mến của tôi nghĩ thế nào rồi. Tôi không còn có gì để biết nữa. Sống, và … chờ.   
Cuối tháng 6-2012, Tienve.org đăng bài nhà thơ Liêu Thái phỏng vấn tôi với tiêu đề: “Một cách khiêm tốn để níu người Chăm ở lại với đất”. Đó là Nhà trưng bày Văn hóa Cham Inrahani tôi dựng lên ở quê nhà, với hi vọng mong manh mình sẽ trở lại sống nơi đó, trở về với bà con Cham còn trụ lại đó. Ngày mai.
Thời 4.
Khía cạnh khác, tháng 4-2012, trong 14 ngày liên tục, tôi viết xong Tcherfunith tại trại Sáng tác Tuy Hòa do tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức. Báo Thể thao & Văn hóa, ngày 4-6-2012 đưa tin:
“Inrasara vừa hoàn thành tiểu thuyết ‘hạt nhân’”: “Với cái tên rất khó nhớ, tiểu thuyết Tcherfunith của Inrasara là một chữ viết tắt kết từ Tchernobyl + Fukushima + Ninh Thuận. Là nhà nghiên cứu, nhà thơ bỏ nhiều tâm huyết với văn hóa – văn minh Chăm, tiểu thuyết này được khởi viết từ khi dự án nhà máy điện hạt nhân rục rịch ở tỉnh Ninh Thuận”. 
Ngày 11-6-2012, báo Sài Gòn Tiếp thị (Hiền Hòa thực hiện) đăng bài trả lời phỏng vấn:
“Nhà thơ Inrasara bị điện hạt nhân làm ‘chấn động’” với lời giới thiệu: “Sau khi thông tin về tiểu thuyết “hạt nhân” vừa hoàn thành có tên Tcherfunith của Inrasara được công bố thì trên mạng đã có rất nhiều đường dẫn với nhiều bàn luận khác nhau. Để độc giả rõ hơn về tác phẩm được thai nghén một cách “gai góc” này, chúng tôi có cuộc trò chuyện với nhà thơ – nhà nghiên cứu Inrasara”.
Mùa Thu năm 2012, báo chí thế giới liên tiếp phanh phui những tiêu cực của hai tập đoàn nguyên tử Rosatom và TEPCO. Như thể một tiếng chuông cảnh báo mới về hiểm họa hạt nhân. Thi sĩ nông dân Chay Mala có bài thơ phúng điếu: “Lời ru buồn cho điện hột nhưn” (Thơ viết nhân nghe tin một Phó Tổng Giám đốc tập đoàn Rosatom bị tạm giam vì tham nhũng) đăng Inrasara.com, 24-11-2012.
Người dưng không vẫy mà về
Chưa trông đã nức, mới nghe đã tình
Ừ, thì như thể tiền duyên
Bà trời đã định thì mình ru nhau

Ngủ đi em giấc mộng đầu
Dăm dòng lục bát làm câu đãi đằng
Cho qua cái phận con tằm
Ngủ trăm năm ngủ ngàn năm, miệt mài

Ngủ đi em giấc mộng dài
Ngủ cho hết kiếp con người mới thôi
Ru nhau ta quyết ngủ vùi
Quàng tay nhau ngủ cho bùi cõi mơ

Ngủ đi em giấc mộng hờ
Rô-xa-tôm với Tép-cô tan hàng
Ru em sẵn tiếng thùy dương
Đôi bờ cát bãi Vĩnh Trường vi vu

Tình ta chưa thắm đã… dù
Thôi thì mượn mấy vần thơ bye bye.
Thời 5.
Nhân loại mau quên. Vài tháng qua, thế giới đổ dồn con mắt về Syria, về Biển Đông, Ucraina… mà quên mất Fukushima. Mới năm rưỡi, chứ lâu lắc gì đâu, vậy mà chúng ta như thể sắp lưu kho thảm họa này vào quá khứ.
Ngày 5-10-2013, Mặc Lâm – biên tập viên RFA phỏng vấn tôi xung quanh tác phẩm không được phép xuất bản in này” “Tcherfunith – một tác phẩm xã hội mang tính hiện thực”. Ở đây tôi tái khẳng định, dẫu thế nào, cộng đồng Cham vẫn cảm nghe nỗi bất an, lo sợ.
Ngày 23-8-2013, khi Vietnamplus.vn đưa tin:
“Ông Báo Văn Trò, người có uy tín trong đồng bào Chăm ở huyện Thuận Nam cho biết: Qua thực tế xem Lò phản ứng hạt nhân ở Đà Lạt hoạt động, được chứng thực cuộc sống của người dân sinh sống gần nhà máy, tôi cũng như mọi người trong đoàn thấy rất an tâm, không phải lo nghĩ về sự nguy hiểm, về bức xạ, phóng xạ gây ảnh hưởng sức khỏe người dân trong tỉnh nói chung và người dân vùng dự án nói riêng. 
Rõ ràng, cuộc sống của người dân sinh sống gần nhà máy không đảo lộn, vẫn diễn ra bình thường. Những vườn rau, vườn hoa vẫn phát triển xanh tốt, tươi đẹp. Với thực tế đó, khi về địa phương, chúng tôi sẽ kể lại những gì đã nghe và thấy rõ trước mắt để cho bà con cùng hiểu và an tâm.”
[Bác Báo Văn Trò ơi! Có ai mớm cho bác không, hay bác tự nghĩ ra mà nói. Phát ra những lời trên, bác có hiểu chút ít gì về hạt nhân chưa? Nói, bác có nhìn sâu vào bụng mình không? Nói, bác còn dám nhìn vào mắt bà con quanh bác mỗi ngày không? Rồi bác sẽ nhìn vào mắt con, cháu bác ra sao? Bác thuộc bậc anh, chú của tôi; tôi chỉ xin mạo muội can bác, làm ơn Ăn theo đường ngay, nói theo lẽ phúc Bbang tui tapak hwak tuy haniim - như ông bà ta từng dạy thế, cho con cháu nhờ.Thug siam!]. 
Như cách khởi động cho phong trào tuyên truyền “an toàn ĐHN” vào quần chúng, thì Đồng Chuông Tử phản ứng ngay tức khắc bằng yêu cầu “Quốc hội cần ‘quyết lại’ điện hạt nhân” (BBC, ngày 13-9-2013).
Thời 6.
Cuối cùng, khi ngày 14-1-2014 Boxit.vn.net đăng một clip video Youtube, ở đó ông Ngô Khắc Cần – hội trưởng Hội Người Cao Tuổi tại địa phương dự án – sau chuyến đi Nhật tham quan nhà máy ĐHN, đã bộc bạch:
“Trước đây người ta nói nhà máy điện hạt nhân thì người dân cũng thấy lo sợ. Hồi đó đến giờ có biết “hạt nhân” là gì! Nhưng sau khi các ông bên trên về giải thích thế này thế khác thì dân cũng an tâm. Bởi vì nói “hạt nhân” chớ có nói về “nguyên tử” đâu mà sợ chết!”
Ngay sau đó, trớ trêu thay, ngày 16-1-2014, báo Tuổi trẻ đưa tin nóng: “Hoãn khởi công nhà máy điện nguyên tử tới năm 2020”:
“Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: “nhà máy điện nguyên tử có thể sẽ phải hoãn đến năm 2020 mới khởi công. Làm điện nguyên tử phải an toàn cao nhất, hiệu quả cao nhất, không đạt không làm”.
Tin lành bay đến, bà con Chăm… thở phào. Như thể họ vừa trút xuống khỏi đầu cái thúng sỏi đầy vun, suốt năm năm qua. Thở phào, vì rằng họ hi vọng nỗi “hoãn” kia sẽ kéo dài bảy năm, mười năm và hơn thế nữa [như chuyên gia điện hạt nhân Phạm Duy Hiển ước thế]… cho tới khi các nhà bác học tìm ra một loại năng lượng sạch thay thế năng lượng hạt nhân (như ý kiến của Tiến sĩ Phùng Liên Đoàn), rằng nếu chưa, thì “không đạt không làm”; và rằng Po Yang Cham sẽ không nỡ bỏ mặc cho con dân mình bị xua đuổi lần nữa, lần cuối cùng trong định mệnh bi đát của họ.
Sài Gòn, 22-1-2014.

Bộ mặt của chính quyền quá nhơ nhớp !


Ai cướp băng-rôn tại lễ tang anh Lê Hiếu Đằng...ở chùa Xá Lợi?

Theo Người Lót gạch
NQL: Không thể hiểu người ta bày mấy trò  này để làm gì? Chẳng lẽ họ không hiểu thế nào là bảo vệ chế độ và thế nào là bôi gio trát trấu chế độ, tự mình tố cáo chế độ này? Lại nhớ lời giao sư Ngô Bảo Châu: Không thể lấy sự cẩu thả và sự sợ hãi làm phương pháp bảo vệ chế độ.

Những kẻ nào xông vào cướp Băng rôn?
Người mặc complet đen cố giật lại là anh Hoàng Dũng


Tên này là ai?
Ảnh: CTV
chụp trưa ngày 24/1 tại sân chùa Xá Lợi
tham khảo:

Hai băng rôn "Bauxite VN" và "Diễn đàn XHDS" đã bị ăn trộm bí mật chôm đêm 23/1
và sáng BTC phát hiện, đã đặt băng rôn thay thế thì cũng đã bị cướp giật ngay tại chỗ như trên...